Người đàn ông đứng sau cuốn sách “Thuật mổ xẻ của Gray”

Ngày nay, cụm từ “Gray’s Anatomy” rất phổ biến trên thế giới, xuất hiện trong rất nhiều các tài liệu tham khảo về văn hoá và được sử dụng rộng rãi bởi hầu hết các sinh viên y khoa. Tuy nhiên, rất ít thông tin được tiết lộ về tác giả của cuốn sách này, Henry Gray.

Gray đã tự thực hiện giải phẫu từ khi là một sinh viên

Sinh ra ở Belgravia, London vào năm 1827, ông chỉ mới 31 tuổi khi ông xuất bản cuốn sách này. Ông là một trong bốn người con được sinh ra trong một gia đình giàu có, ông có cha là sứ giả cho vua George IV và vua William IV. Vào ngày 6 tháng 5 năm 1845, ông đã tham gia thực tập tại Bệnh viện St George với tư cách là một sinh viên y khoa, và đây cũng chính là nơi ông cống hiến trong suốt cuộc đời còn lại của mình.

Henry Gray

Những người xung quanh mô tả ông là một người tỉ mỉ và có phương pháp, ông đã nghiên cứu thuật mổ xẻ bằng cách tự mình thực hiện những vết mổ. Ở thời điểm đó, đây là một việc làm bất thường bởi các sinh viên hầu hết chỉ được nhìn thấy các giáo sư thực hiện điều này.

Trong khi vẫn là một sinh viên, ông đã xuất bản một bài báo chứng minh rằng võng mạc phát triển từ một sự lồi ra của bộ não. Bài báo này là một trong những sự lý giải sớm nhất về sự phát triển của các lớp võng mạc, đã mang lại cho ông giải thưởng Triennial College of Surgeons ‘Triennial Prize.

Tác phẩm của Gray gây ấn tượng với cộng đồng khoa học

Sau khi hoàn thành bằng y khoa, Gray trở thành thành viên của Royal College of Surgeons. Ông ở lại bệnh viện để làm việc với tư cách một bác sĩ phẫu thuật gia đình trong một năm trước khi được bổ nhiệm làm Người thuyết minh giải phẫu (Demonstrator of Anatomy) vào năm 1852 và sau đó trở thành Giảng viên giải phẫu vào năm 1853.

Cùng năm đó, khi mới 25 tuổi, ông được bầu vào Hội đồng Hoàng gia sau khi gây ấn tượng với các học giả bằng các bài báo về sự phát triển của lá lách, tuyến thượng thận và tuyến giáp ở gà con.

Từ nghiên cứu của mình, Gray đã chứng minh rằng ba bộ phận này, cộng với tuyến ức, nên được phân loại thành một nhóm. Vào thời điểm đó, ông đã gọi chúng là “tuyến không ống dẫn”, và bây giờ chúng ta gọi chúng bằng tên gọi tuyến nội tiết.

Từ quan sát của mình, Gray đã đưa các loại tuyến không ống dẫn này vào một nhóm dựa trên sự giống nhau về nguồn gốc, cấu trúc của chúng trong giai đoạn phát triển đầu tiên và cách mà chúng phát triển trong suốt giai đoạn bào thai. Luận án của ông, có tên gọi ‘On the structure and Use of Spleen’ (tạm dịch: Về cơ cấu và công dụng của lá lách, đã đem về cho ông giải thưởng Astley Cooper và 300 đồng ghinê (tiền vàng của nước Anh xưa).

Xuất bản sách giáo khoa về giải phẫu

Năm 1855, khi Gray 28 tuổi, ông đã bắt đầu suy nghĩ về việc tạo ra một cuốn sách giáo khoa dễ tiếp cận và không tốn kém về giải phẫu học. Ông tìm đến của mình, một nhà soạn thảo có tay nghề và trước đây từng là Nhà thuyết minh giải phẫu, Henry Vandyke Carter, để tạo ra các minh hoạ cho cuốn sách.

Hai người đã làm việc cho dự án trong 18 tháng, thực hiện các cuộc giải phẫu để có được kiến ​​thức trực tiếp về giải phẫu con người. Thông qua Đạo luật Giải phẫu năm 1832, cho phép các bác sĩ, giáo viên giải phẫu và sinh viên y khoa được phép sử dụng các xác chết mà không cần hỏi ý kiến của nhà xác bệnh viện, để thực hiện nghiên cứu chi tiết các cơ quan.

Cuốn sách giáo khoa được xuất bản dưới cái tên “Giải phẫu học: Mô tả và Phẫu thuật”, xuất bản năm 1858 và dài 750 trang với 363 bản vẽ chi tiết. Cuốn sách – hiện đã có ấn bản thứ 41 – đã có được thành công bất ngờ dù vướng phải những sự cạnh tranh gay gắt. Thành tựu này có được là do tính dễ hiểu và logic của nó, sự sắp xếp chặt chẽ của văn bản và hình minh họa, cũng như các nhận xét về giải phẫu – phẫu thuật.

Sự nghiệp của Gray tiếp tục phát triển, sau đó ông đã được bổ nhiệm làm người quản lý Bảo tàng Bệnh viện St George và bác sĩ phẫu thuật tại Bệnh viện St James.

Ông đã chuẩn bị một ấn bản sửa đổi lần thứ hai vào năm 1860, nhưng thật tiếc, ông đột ngột qua đời vào năm sau đó, khi ông 34 tuổi. Ông ra đi vào chính ngày được mời phỏng vấn về vị trí Trợ lý phẫu thuật khi còn ở Bệnh viện St George’s, ông đã bị lây bệnh đậu mùa khi tiến hành điều trị cho người cháu trai của mình.

Theo MIMS