Chỉ dẫn sử dụng Risperidone trong điều trị chứng sa sút trí tuệ

Những điểm chính

Những đánh giá mặt lợi – hại của các sản phẩm có chứa risperidone được thực hiện bởi các cơ quan quản lý quốc tế và HSA đã xác nhận mối quan hệ giữa việc sử dụng risperidone trong điều trị chứng sa sút trí tuệ não mạch hoặc sa sút trí tuệ hỗn hợp (mixed or vascular dementia) và tăng nguy cơ các phản ứng có hại liên quan đến mạch não (cerebrovascular adverse events)

Chỉ định đã đăng ký của risperidone sẽ được điều chỉnh trong trường hợp điều trị ngắn hạn ở bệnh nhân chỉ mắc chứng mất trí nhớ Alzheimer (Alzheimer’s Dementia)

Các chuyên gia chăm sóc sức khoẻ được khuyên nên xem xét khi kê toa các sản phẩm có chứa Risperidone

HSA muốn thông báo cho các chuyên gia chăm sóc sức khoẻ về kết quả đánh giá lợi – hại mà họ đã thu được đối với chỉ định của Risperidone đã được sửa đổi trong điều trị chứng sa sút trí tuệ.

Risperidone hiện đang được cấp phép trong điều trị các triệu chứng rối loạn hành vi ở bệnh nhân sa sút trí tuệ. Bởi nguy cơ cao của các phản ứng có hại với mạch não (CVAE) do việc sử dụng nó trong điều trị chứng sa sút trí tuệ hỗn hợp hoặc sa sút trí tuệ não mạch (MD / VD), chỉ định cấp phép Risperidone sẽ được điều chỉnh để điều trị ngắn hạn ở bệnh nhân sa sút trí tuệ Alzheimer (AD).

Risperdal (Risperidone)

Nó sẽ không còn được khuyến cáo sử dụng trong điều trị các chứng sa sút trí tuệ, như MD / VD. Ngoài ra, các cảnh báo sẽ được nhấn mạnh trong các gói hàng để giảm thiểu nguy cơ CVAE. Sự điều chỉnh này đã được đưa ra từ sự tham khảo ý kiến của Ủy ban Cố vấn về Thuốc và Các chuyên gia lâm sàng của HSA, sau khi có mối quan ngại về tăng nguy cơ CVAE liên quan đến việc sử dụng risperidone trong điều trị MD / VD

Một số cơ quan quản lý dược phẩm quốc tế khác đã có những hạn chế tương tự đối với chỉ định của Risperidone, sau khi bắt đầu có những thay đổi trong các chỉ dẫn được cấp phép bởi nhà sản xuất (Janssen Cilag Spa) của sản phẩm mới này (Risperdal®).Trong số đó có cơ quan Y tế Canada và cơ quản Quản lý dược của Úc.

Các cơ quan Dược phẩm Châu Âu đã hạn chế hơn nữa thời gian sử dụng Risperidone trong điều trị ngắn hạn (dưới 6 tuần) ở những bệnh nhân có AD từ mức độ trung bình đến nặng mà không có phản ứng gì với các phương pháp tiếp cận không có dược lý và khi có nguy cơ gây hại cho bản thân hoặc người khác.

Đánh giá rủi ro – lợi ích từ HSA

Đánh giá của HSA đối với việc sử dụng Risperidone trong điều trị chứng sa sút trí tuệ, thông qua xem xét các bằng chứng khoa học sẵn có, các thông tin đầu vào từ các bác sỹ lâm sàng địa phương, dữ liệu an toàn do người giữ giấy phép sản phẩm (Johnson & Johnson Pte Ltd) và các thông báo về phản ứng có hại với thuốc (ADR) cũng như các hoạt động của các cơ quan quản lý thuốc khác.

Các dữ liệu hiện có cho thấy Risperidone, với liều điều trị được khuyến cáo, đã chứng minh hiệu quả trong điều trị ở bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh sa sút trí tuệ mức độ trung bình và nặng

(AD, MD hoặc VD) bằng cách đạt được tỷ lệ phản ứng cao hơn đáng kể, được đo bằng hành vi bệnh học trong bệnh Alzheimer (BEHAVE-AD) và số điểm kiểm kê ngẫu nhiên Cohen-Mansfield (CMAI) so với giả dược.

CVAE như đột qụy và thiếu máu cục bộ tạm thời, bao gồm cả tử vong, đã được báo cáo trong các thử nghiệm risperidone ở những bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh tâm thần liên quan đến sa sút trí tuệ. Tuy nhiên, đánh giá dữ liệu sau thị trường cho thấy tỷ lệ CVAE cao hơn ở những bệnh nhân MD / VD so với những bệnh nhân AD sử dụng Risperidone. Kết quả tổng hợp từ tất cả các nghiên cứu đối chứng giả dược cho thấy nguy cơ CVAE cao gấp 2,1 lần ở bệnh nhân MD / VD so với bệnh nhân AD. Dữ liệu tổng hợp từ tất cả các nghiên cứu có đối chứng giả dược cũng cho thấy số trường hợp CVAE nghiêm trọng có thể cao gấp 2,7 lần ở MD / VD so với bệnh nhân AD. Trong khi nguyên nhân của CVAE ở những bệnh nhân này chưa được xác định rõ, sự tăng lên trong nguy cơ CVAE ở bệnh nhân suy giảm trí nhớ đã được giả định là do hạ huyết áp trực tràng (orthostatic hypotension),các triệu chứng nghẽn mạch huyết khối (thromboembolic events) và mất nước 4… Ngoài ra, các bệnh đồng phát (concomitant diseases) như tiểu đường và cao huyết áp cũng như các bệnh lý ở não ví dụ như ở VD cũng đồng nghĩa với việc bệnh nhân có CVAE.

HSA đã nhận được một báo cáo ADR nghiêm trọng về một trường hợp đột quỵ liên quan đến risperidone. Một người 92 tuổi, được chẩn đoán có các triệu chứng về hành vi và tâm thần của chứng sa sút trí tuệ, được kê toa risperidone để kiểm soát hành vi trong 6 tháng. Bệnh nhân cũng có các yếu tố nguy cơ khác như tăng lipit máu (hyperlipidaemia). Ngoài ra, bệnh nhân còn bị viêm xương khớp đầu gối (osteoarthritis of the knees), suy giảm thần kinh (vestibulobasilar insufficiency) và tăng sản tuyến tiền liệt lành tính (benign prostatic hyperplasia). Tuy nhiên, risperidone là loại thuốc duy nhất bị nghi ngờ và mối quan hệ ở đây đã được đánh giá bởi các bác sĩ.

HSA, khi tham khảo ý kiến ​​từ MAC, đã kết luận rằng tác dụng lợi hay hại khi sử dụng risperidone trong điều trị chứng sa sút trí tuệ vẫn cần được xem xét khi nó được giới hạn trong điều trị ngắn hạn AD. Đánh giá cho rằng nguy cơ CVAE đối với AD vẫn chưa được chứng minh là tăng lên do thuốc. Bên cạnh đó, khi sử dụng risperidone trong AD, nguy cơ CVAE có thể được giảm xuống dựa vào đánh giá của các bác sĩ về các yếu tố nguy cơ mạch máu não (cerebrovascular risk factors), giúp hoàn thành liệu pháp điều trị khi mà các triệu chứng về hành vi và tâm thần của chứng sa sút trí tuệ được kiểm soát và theo dõi thường xuyên để đánh giá bệnh nhân và xem xét sự cần thiết tiếp tục điều trị. Tuy nhiên, risperidone không còn được khuyến cáo sử dụng trong các loại chứng sa sút trí tuệ khác, như MD / VD, do nguy cơ CVAE cao.

Tư vấn của HSA

Các chuyên gia chăm sóc sức khoẻ nên lưu ý đến những điều sau đây để giảm thiểu nguy cơ CVAE khi xem xét việc sử dụng risperidone để điều trị chứng sa sút trí tuệ:

Risperidone được chỉ định trong điều trị ngắn hạn ở bệnh nhân sa sút trí tuệ mức độ trung bình đến nghiêm trọng thuộc vào loại bệnh Alzheimer

Các bác sĩ nên đánh giá rủi ro và lợi ích của việc sử dụng risperidone ở bệnh nhân cao tuổi mắc chứng sa sút trí tuệ, có tính đến yếu tố dự báo nguy cơ đột quỵ ở bệnh nhân.

  • Bệnh nhân nên thường xuyên được kiểm tra lại để xác định nhu cầu cần tiếp tục điều trị.

HSA sẽ làm việc với các công ty để cập nhật các gói sản phẩm risperidone tại địa phương, từ đó đưa thông tin về những hạn chế trong chỉ định và khuyến cáo của thuốc. Một lá thư khuyến cáo cho các chuyên gia chăm sóc sức khoẻ đã được gửi đi vào ngày 16/06/2016.

Tham khảo

http://healthycanadians.gc.ca/recall-alert-rappel-avis/hc-sc/2015/43797 a-eng.php

http://www.tga.gov.au/publication-issue/medicines-safety-update-volume-6- number-4-august-2015#risperidone

http://www.ema.europa.eu/ema/index.jsp?curl=pages/medicines/human/ referrals/Risperdal/human_referral_000022jsp&mid=WC0b01ac05805c516f

(Am J Psychiatry 2012; 169(9): 900-6.)

http://www.hsa.gov.sg/DHCPL