5 công nghệ thực tế ảo tăng cường có thể ứng dụng trong y tế

Trong khi thực tế ảo (VR) tạo ra một thế giới 3D không gắn liền với hiện thực thì thực tế ảo tăng cường (AR) mang tới không gian trực tiếp hoặc gián tiếp về một môi trường có thực, thế giới thực được tăng cường bởi đầu vào cảm giác do máy tính tạo ra như âm thanh, video hoặc đồ hoạ. Những tính năng độc đáo này cho phép AR tạo ra một cuộc cách mạng trong y tế.

Dưới đây là năm thiết bị y tế sử dụng công nghệ AR.

EyeDecide: Thay đổi lối sống của bệnh nhân thông qua mô phỏng

Khi bệnh nhân không thể hoặc phải rất khó khăn để có thể mô tả chính xác những triệu chứng của họ với bác sĩ một, đặc biệt trong nhãn khoa, AR có thể hữu ích trong việc hướng dẫn bệnh nhân.

EyeDecide là một ứng dụng y khoa sử dụng một màn hình hiển thị camera để mô phỏng ảnh hưởng của các điều kiện nhất định đối với tầm nhìn của một người. Bằng cách sử dụng ứng dụng này, các bác sĩ có thể mô phỏng tầm nhìn của bệnh nhân khi bị ảnh hưởng bởi một tình trạng cụ thể.

Ví dụ, ứng dụng này có thể trình chiếu tác động của đục thủy tinh thể và thoái hóa điểm vàng (AMD) tới bệnh nhân và giúp họ hiểu được các triệu chứng cũng như tình trạng thực tế của mình. Do đó, khi bệnh nhân được chứng kiến mô phỏng về các tác động trong tương lai của một số căn bệnh nhất định, điều đó có thể khuyến khích họ tạo ra những thay đổi tích cực trong lối sống.

Medsights Tech: Thiết bị hỗ trợ phẫu thuật thời gian thực

Các công nghệ AR cũng được tích cực ứng dụng trong phẫu thuật. Cho dù đó là những ca phẫu thuật xâm lấn tối thiểu hay phát hiện khối u trong gan, AR giờ đây có thể giúp các cuộc phẫu thuật hiệu quả hơn và điều trị bệnh nhân được liền mạch.

Bên cạnh Hololens giúp hiển thị các mô hình giải phẫu thực, Medsights Tech cũng đã phát triển phần mềm để kiểm tra khả năng sử dụng AR giúp tạo ra các khối u ba chiều tái tạo. Công nghệ tái cấu trúc hình ảnh phức tạp, thông qua tầm nhìn tia X, sẽ giúp cho các bác sỹ phẫu thuật không bị phơi nhiễm phóng xạ trong thời gian thực.

VA-ST: Cho phép người mù “nhìn thấy” trở lại

Stephen Hicks, nhà nghiên cứu và là người sáng lập ra VA-ST, cho biết: “Phần lớn những người khiếm thị vẫn còn một chút khả năng nhìn thấy được.” Để giúp những người này, kính ngắm VA-ST được thiết kế để sử dụng hàng ngày như nhận dạng khuôn mặt, lái xe, đọc và tránh các vật cản trên đường.

Thiết bị hoạt động bằng cách tạo ra một phác thảo stencil thô trên khuôn mặt của một người để nhận dạng và giúp khắc phục những tình huống có độ tương phản kém. Những thông số kỹ thuật AR thông minh này được hy vọng sẽ giúp cho người khiếm thị điều hướng và tận dụng tối đa tầm nhìn còn lại của họ.

Proximie: Phối hợp phẫu thuật từ xa

Proximie, giống như Medsights Tech cung cấp công nghệ AR cho sự phối hợp từ xa giữa các bác sĩ trong một ca phẫu thuật, đồng thời là công cụ giáo dục y khoa cho việc đào tạo phẫu thuật.

Nadine Harach-Haram, bác sĩ phẫu thuật London, cho biết: “Chúng ta cần tìm cách thông qua công nghệ để đại chúng hóa sự tiếp cận phẫu thuật và tập hợp tất cả những kiến thức đó vào một nơi mà chúng ta có thể khai thác nó.”

Proximie bao gồm một bộ cảm biến giúp trình chiếu hình ảnh bàn tay của bác sĩ tư vấn thông qua một màn hình – chẳng hạn như một chiếc iPad- qua đó hướng dẫn các bác sĩ trong suốt cuộc phẫu thuật. Điều này có thể cho phép các bác sĩ biết được vị trí cần mổ.

Ứng dụng này được đưa ra vào năm ngoái và được nhiều người biết đến khi một bác sĩ ở Beirut hướng dẫn các bác sĩ phẫu thuật tại Gaza thông qua một cuộc phẫu thuật tái tạo. Nó cũng đang được sử dụng tại Đại học College London để giảng dạy sinh viên y khoa và các công ty thiết bị y tế cũng đã sử dụng Proximie cho mục đích đào tạo.

AccuVein: Máy dò tĩnh mạch

Một công ty mới thành lập tên là AccuVein cũng đang sử dụng công nghệ AR trong việc hỗ trợ các bác sĩ và y tá tìm tĩnh mạch dễ dàng hơn. Bằng cách sử dụng công nghệ AR, một máy quét cầm tay được chiếu trên da của bệnh nhân giúp hiển thị vị trí các tĩnh mạch. Vinny Luciano, chuyên gia marketing của AccuVein, cho biết: “40% các mũi tiêm tĩnh mạch không thể tìm thấy tĩnh mạch trong lần đầu tiên và tỷ lệ này còn cao hơn ở trẻ em và người cao tuổi.”

Luciano ước tính rằng kỹ thuật này đã được sử dụng trên hơn 10 triệu bệnh nhân, giúp cho việc dò tìm tĩnh mạch trong lần tiêm đầu tiên dễ dàng hơn gấp 3,5 lần.

Theo MIMS