10 thuốc được coi là quan trọng nhất mà con người đã phát minh ra

Cho đến nay, ngành Y Tế thế giới đã sản xuất ra hàng ngàn các loại thuốc khác nhau. Tuy nhiên những loại thuốc nào được coi là quan trọng nhất mà con người đã từng nghiên cứu ra.

Dựa trên các tiêu chí là cải thiện những điều kiện cuộc sống, là nền tảng cho việc phát triển các loại thuốc khác, số lượng thuốc được sử dụng và số lượng bệnh nhân được điều trị. Chúng tôi đưa ra 10 loại thuốc được coi là quan trọng nhất trong lịch sử ngành Y Tế.

Penicillin

Được phát triển vào năm 1928, Penicilin là một trong những phát kiến lớn nhất của ngành Y Tế. Nó đã mở ra thời kì phát triển các loại thuốc kháng sinh hiện nay. Ước tính đã có khoảng 80 triệu người được cứu sống nhờ vào việc sử dụng kháng sinh này và nếu như không có khám phá này thì 75% dân số hiện tại của thế giới không tồn tại.

Nó được sử dụng để điều trị rất nhiều bệnh như:  viêm phổi, bệnh tinh hồng nhiệt (scarlet fever), cũng như các nhiễm khuẩn tai mũi họng, hô hấp, da,…

Hiện nay, mẫu vải mốc mà Alexander Fleming đã dùng để phát hiện hiện ra Penicilin được bán với giá hơn 14.600 đô la.

Penicillin
Insulin

Insulin được khám phá ra vào năm 1921 bởi Charles Best and Frederick Grant Banting trước khi nó được thương mại hóa vào năm 1922. Nó được coi như là nền tảng để phát triển các liệu pháp Hormone trong việc điều trị bệnh như Hormone dùng trong phương pháp tránh thai ( nó đã tạo ra những hiệu ứng xã hội sâu xắc ) và cải thiện sức khỏe của phụ nữ. Hay như việc sử dụng Adrenaline trong điều trị phản ứng quá mẫn, ngừng tim  và xuất huyết nông.

Insulin
Aspirin

Hippocrates (được xem là người sáng lập ra nềny họchiện đại và cũng được xem là thầy thuốc vĩ đại nhất trong thời đại của ông) đã từng đề cập đến vỏ cây liễu dùng để giảm đau, nhưng cho đến tận năm 1899, một dược sĩ của Bayer đã phân lập được acetylsalycilc acid từ cây liễu để làm giảm bớt cơn đau do bệnh thấp khớp của cha ông. Ngày nay, Aspirin được sử dụng rộng dãi để giảm đau và chống lại các phản ứng viêm do bệnh về tim và ung thư. Dù sao, đối với những cơn đau như đau cơ, khớp, hay đau đầu,..Aspirin không còn thích hợp do những tác dụng phụ của nó.

aspirin
Vac-xin đậu mùa

Rất nhiều trẻ em đã chết vì những bệnh lây nhiễm đặc biệt trong thời kì các đại dịch đậu mùa – đã có hơn 10% dân số thế giới chết vì nó. Nhờ có Edward Jenner và Sarah Nelmes, những cô gái làm nghề vắt sữa, Vắc-xin đậu mùa đã được phát triển vào năm 1798 và xóa sổ được căn bệnh đậu mùa. Phát hiện này đã mở ra con đường phát triển những vắc xin về sau này để ngăn ngừa các căn bệnh lây nhiễm như Vắc xin bại liệt, Sốt rét, bệnh sởi.

Vắc xin đậu mùa
Morphine

Morphine được phát hiện lần đầu vào năm 1804 bởi Dược sĩ người Đức Friedrich Serturner. Hai thập kỉ sau, Merck bắt đầu thương mại hóa morphin vào năm 1827. Nó được phát triển mạnh mẽ sau sự ra đời và phát triển của ống tiêm dưới da vào năm 1852. Thuốc giảm đau này cũng mang lại khả năng gây nghiện cho bệnh nhân.

Nếu như không có Morphine, hàng triệu người đã phải trải qua những cơn đau tột cùng , đặc biệt là những người lính bị thương trên chiến trường.

Khám phá này cũng mở ra sự phát triển của nhóm thuốc giảm đau.

morphine
Ether

Ether được khám phá ra 300 năm trước khi nó được sử dụng làm thuốc gây tê, gây mê bởi Crawford Willianson Long vào năm 1842 để cắt bỏ một khối u từ cổ của bệnh nhân Jams M. Venable. Với sự phát triển của ether, bệnh nhân không còn phải cơn đau hay phải trói chân tay khi thực hiện các ca phẫu thuật. Trong vào một vài thập niên sau đó, những thuốc gây tê gây mê mới đã được phát triển và cải tiến nhờ dựa trên việc phát hiện ra ether.

ether
Các thuốc Hóa trị liệu

Được sử dụng ban đầu như một loại vũ khí trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, mù tạt khí (một loại vũ khí rất độc hại khi tiếp xúc với con người) là một trong những tác nhân hóa trị liệu đầu tiên dùng để điều trị ung thư sau khi nó được chứng minh có thể tiêu diệt tế bào ung thư. Dù sao, nó cũng tiêu diệt cả những tế bào quan trọng, những lợi ích đem lại là không lớn. Năm 1956, Roy Hertz và Min C. Li đã khám phá ra Methotrexate như là thuốc đầu tiên chứng minh được tác dụng chống lại ung thư dạ con (một dạng ung thư khá hiếm). Nó đã mở ra con đường phát triển cho hóa trị liệu trong một vài thập kỉ sau đó, giúp tăng tỉ lệ sống sót của bệnh ung thư khá nhiều.

Methotrexate
Thuốc ức chế enzyme protease virus HIV

Những thử nghiệm đầu tiên trong Phase 1 của chất ức chế enzyme protease của HIV, Saquinavir, được bắt đầu vào năm 1989 và sau đó được chấp nhận sử dụng trong kê đơn điều trị vào năm 1995. Đó là những phát minh đầu tiên bởi các nhà khoa học thuộc Hoffmann-LaRoche Inc, Abbott và Merck.

Bốn tháng sau đó, hai thuốc khác được là Ritonavir và Indinavir được chấp thuận. Từ đó, đã có rất nhiều chất ức chế enzyme Protease được đưa ra, cứu sống rất nhiều bệnh nhân AIDS.

Saquinavir
Botox

Alan B. Scott đã thử nghiệm Botulinum toxin A lần đầu tiên trên người vào năm 1978, sau đó ông đã nhận được sự cho phép của FDA để nghiên cứu tác dụng của thuốc trên bệnh lác mắt (tật lác mắt). Mười năm sau, Allergan đã giành được việc phân phối thuốc và bán ra thị trường với tên Oculinum để điều trị bệnh cơ mắt hoạt động quá mức và co giật mi tự phát. Mặc dù vậy, ngày nay nó được sử dụng trong mỹ phẩm nhiều hơn. Botox cũng được sử dụng để điều trị rối loạn tăng động thần kinh, thư giãn cơ thực quản, quai hàm, đường tiểu dưới và bàng quang.

Botox
Warfarin

Việc khám phá ra Warfarin được bắt đầu khi hàng trăm con bò bị chết do không chịu được việc chảy máu quá mức sau khi cắt sừng hoặc thiến ở Mỹ và Canada vào đầu những năm 1920.

Tiến sĩ Karl Paul Link đã phân lập và xác định được một nhóm hoạt chất Dicoumarol vào năm 1939 và một chất tiềm năng trong nhóm là Warfarin. Tuy nhiên khi đó nó mới được chấp nhận như một chất độc diệt chuột. Sau đó người ta khám phá ra tác dụng đối nghịch của nó với Vitamin K, và bây giờ nó được sử dụng với vai trò làm tan cục máu đông.

Warfarin